Khoa Mậu Ngọ năm 1138
Các tư liệu văn bia và đăng khoa chí được dẫn lại cho biết Tô Hiến Thành đỗ khoa Minh kinh bác học năm Mậu Ngọ (1138). Đây là mốc được ghi nhận trước khi tên tuổi ông xuất hiện rõ trong hoạt động triều chính thời Lý Anh Tông.
Vị đại thần văn võ song toàn, phò tá ba triều vua Lý, hết lòng vì nước vì dân, được triều đình suy tôn phong tước Vương và nhân dân muôn đời phụng thờ kính ngưỡng.
Thái Úy Tô Hiến Thành (sinh ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ 1102 – mất ngày 12 tháng Sáu năm Kỷ Hợi 1179) là vị quan đại thần phụ chính lẫy lừng của vương triều nhà Lý nước Đại Việt.
Xuất thân nơi đất cố đô văn hiến, ông tinh thông cả kinh sách Nho học lẫn binh thư yếu lược trận đồ. Sau khi đỗ khoa thi Minh kinh bác học năm 1138, ông bước vào quan lộ và nhanh chóng trở thành trụ cột gánh vác rường cột quốc gia dưới triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông.
Trong suốt hơn 40 năm phụng sự, Thái Úy Tô Hiến Thành giữ các trọng trách: Thái úy, Đô thống chỉ huy quân đội, Bình chương quân quốc trọng sự và Nhiếp chính phụ chính ấu chúa. Tài năng kinh bang tế thế và đức độ thanh liêm của ông được cả chính sử và nhân dân tôn sùng là bậc "Đại thần xã tắc".
Khắc họa phong thái nhân hậu, uy dũng và tấm lòng trung liệt vì nước vì dân.
Thái Úy Tô Hiến Thành sinh ra tại xóm Lẻ, hương Ô Diên, huyện Vĩnh Khang (nay thuộc Thôn Hạ Mỗ, Xã Hạ Mỗ, Huyện Đan Phượng, Thành Phố Hà Nội). Thân phụ là cụ Tô Trung, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Đoan – một gia đình danh gia vọng tộc, trọng nghĩa khí và giữ nghiêm nền nếp gia phong gia giáo.
Mảnh đất quê hương Hạ Mỗ chính là cố đô Ô Diên vang bóng thế kỷ thứ VI thời nước Vạn Xuân dưới quyền Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử) và Hoàng tử Lý Bát Lang. Nằm bên dòng sông Nhuệ cổ tụ hội linh khí non sông xứ Đoài, vùng đất này đã hun đúc nên khí phách thông tuệ và bản lĩnh phi thường của vị hiền tài họ Tô.
Hạ Mỗ tự hào là đất khoa bảng, nơi dựng Đền Văn Hiến (Văn Hiến Đường) từ thời cổ để tôn vinh đạo học và các bậc danh nho tiền bối.
Nơi tưởng niệm và lưu giữ dấu tích cội nguồn nghìn năm của Thái úy Tô Hiến Thành tại làng Hạ Mỗ.
Các tư liệu văn bia và đăng khoa chí được dẫn lại cho biết Tô Hiến Thành đỗ khoa Minh kinh bác học năm Mậu Ngọ (1138). Đây là mốc được ghi nhận trước khi tên tuổi ông xuất hiện rõ trong hoạt động triều chính thời Lý Anh Tông.
Năm 1175, Lý Anh Tông phong Tô Hiến Thành chức Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự và tước vương. Danh xưng này thể hiện vị trí rất cao của ông trong việc gánh vác công việc quốc gia.
Khi Lý Anh Tông qua đời năm 1175, Tô Hiến Thành được giao phụ chính cho vua Lý Cao Tông còn nhỏ. Sử liệu ghi nhận ông giữ đúng di chiếu, không nhận của đút để thay đổi người kế vị.
Ảnh là minh họa AI phục dựng, không phải tư liệu gốc hay tái hiện một sự kiện cụ thể.
Không chỉ là nhà chính trị và học giả uyên bác, Thái Úy Tô Hiến Thành còn là một danh tướng kiệt xuất nắm giữ chức Đô thống chỉ huy tối cao các lực lượng quân sự Đại Việt.
Tài thao lược của ông thể hiện ở cả ba mặt trận trọng yếu: dẹp tan loạn Thân Lợi vùng Đông Bắc (1141), bình định người Man Ngưu Hống và quân Ai Lao ở biên ải Tây Bắc (1159), và thống lĩnh thủy lục nam chinh khiến vua Chiêm Thành thần phục (1167).
"Binh quý ở chỗ an dân chứ không quý ở chỗ sát phạt; lấy uy vũ dẹp loạn nhưng lấy ân đức để phục lòng người."
Tay cầm cuốn thư mở mang trí tuệ, tay nắm đốc kiếm trấn giữ non sông cõi bờ Đại Việt.